Tư vấn
Thuế TNCN, Tin tức thuế | 15/07/2026 | 25 phút đọc

Công văn 7889/NBI-QLDN3: Hướng dẫn khấu trừ thuế TNCN sau khi nghỉ việc

Công văn 7889/NBI-QLDN3: Hướng dẫn khấu trừ thuế TNCN sau khi nghỉ việc

Nội dung chính

Công văn 7889/NBI-QLDN3 là văn bản do Thuế tỉnh Ninh Bình ban hành trong năm 2026, hướng dẫn cụ thể cách khấu trừ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với người lao động sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động. Văn bản ra đời trong bối cảnh không ít doanh nghiệp lúng túng khi phải chi trả lương tháng cuối, trợ cấp thôi việc hoặc các khoản thu nhập còn lại cho người lao động đã nghỉ việc, nhưng chưa xác định rõ nên áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần hay khấu trừ theo tỷ lệ cố định 10%.

Theo Thông tư 111/2013/TT-BTC, thời điểm xác định thu nhập chịu thuế là thời điểm doanh nghiệp thực trả tiền lương, tiền công, không phụ thuộc thời điểm phát sinh công việc. Đây chính là căn cứ then chốt để cơ quan thuế đưa ra hướng dẫn trong Công văn 7889/NBI-QLDN3, giúp bộ phận kế toán áp dụng đúng quy định, hạn chế sai sót khi quyết toán thuế TNCN cuối năm và tránh rủi ro bị truy thu.

Tóm tắt trọng tâm về Công văn 7889/NBI-QLDN3

Tóm tắt trọng tâm về Công văn 7889/NBI-QLDN3
Tóm tắt trọng tâm về Công văn 7889/NBI-QLDN3
  • Công văn 7889/NBI-QLDN3 là văn bản hướng dẫn của Thuế tỉnh Ninh Bình về khấu trừ thuế TNCN cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động, ban hành năm 2026.
  • Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 2, khoản 2 Điều 8 và Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
  • Đối tượng áp dụng: doanh nghiệp chi trả thu nhập cho người lao động sau khi đã nghỉ việc, mức trả từ 2 triệu đồng/lần trở lên.
  • Nguyên tắc xử lý: khấu trừ 10% trên thu nhập trước khi trả, trừ trường hợp người lao động đủ điều kiện làm cam kết theo Điều 25.
  • Cần lưu ý: dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 đề xuất nâng ngưỡng khấu trừ này lên 5 triệu đồng/lần.

Công văn 7889/NBI-QLDN3 là gì? Định nghĩa và bối cảnh ban hành

Công văn 7889/NBI-QLDN3 là gì? Định nghĩa và bối cảnh ban hành
Công văn 7889/NBI-QLDN3 là gì? Định nghĩa và bối cảnh ban hành

Công văn 7889/NBI-QLDN3 do Thuế tỉnh Ninh Bình phát hành ngày 24/06/2026, trả lời vướng mắc của doanh nghiệp trên địa bàn về việc khấu trừ thuế TNCN khi chi trả thu nhập cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động. Nội dung công văn dựa trên các quy định hiện hành tại Thông tư 111/2013/TT-BTC, không ban hành quy định mới mà làm rõ cách áp dụng trong tình huống cụ thể phát sinh tại doanh nghiệp.

Nói ngắn gọn, đây là văn bản trả lời chính sách (công văn hướng dẫn), có giá trị áp dụng cho trường hợp cụ thể được hỏi, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các doanh nghiệp khác gặp tình huống tương tự trên phạm vi cả nước.

Thu nhập nào thuộc diện chịu thuế TNCN theo Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC?

Trước khi áp dụng cách khấu trừ theo Công văn 7889/NBI-QLDN3, doanh nghiệp cần xác định đúng khoản nào là thu nhập chịu thuế. Theo khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC, thu nhập từ tiền lương, tiền công chịu thuế bao gồm:

  • Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công, dù trả bằng tiền hay không bằng tiền.
  • Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ một số khoản được loại trừ riêng khỏi thu nhập chịu thuế.
  • Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài lương do người sử dụng lao động chi trả cho người nộp thuế dưới mọi hình thức.
  • Các khoản tiền thưởng bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức, kể cả thưởng bằng chứng khoán, trừ một số khoản tiền thưởng được loại trừ riêng.

Điểm doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý: theo tiết b.6 khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp và một số khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội không thuộc thu nhập chịu thuế TNCN. Vì vậy, khi chi trả các khoản còn lại cho người lao động đã nghỉ việc, kế toán cần tách riêng phần trợ cấp thôi việc đúng quy định (được miễn) với phần lương, tiền công, tiền thưởng còn nợ (chịu thuế), rồi mới áp dụng cách khấu trừ nêu tại Công văn 7889/NBI-QLDN3 cho phần thu nhập chịu thuế.

Về cách xác định số thu nhập chịu thuế, khoản 2 Điều 8 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công, tiền thù lao và các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế.

Vì sao Công văn 7889/NBI-QLDN3 quan trọng với doanh nghiệp và kế toán?

Trên thực tế, không ít doanh nghiệp thanh toán các khoản lương, thưởng, trợ cấp thôi việc cho người lao động sau ngày nghỉ việc chính thức, đôi khi cách vài tuần đến vài tháng. Nếu kế toán áp dụng nhầm biểu thuế, hai tình huống có thể xảy ra: khấu trừ thiếu dẫn đến bị truy thu và phạt chậm nộp, hoặc khấu trừ thừa khiến người lao động chịu thiệt và phát sinh khiếu nại.

Công văn 7889/NBI-QLDN3 giúp thống nhất cách hiểu, xác định rõ ranh giới giữa hai trường hợp: khi hợp đồng lao động vẫn còn hiệu lực tại thời điểm chi trả và khi hợp đồng đã chấm dứt tại thời điểm chi trả. Đây là điểm mấu chốt quyết định biểu thuế áp dụng.

Đối tượng nào chịu tác động bởi Công văn 7889/NBI-QLDN3?

Công văn 7889/NBI-QLDN3 tác động trực tiếp đến các nhóm sau:

  • Doanh nghiệp phải chi trả lương tháng cuối, phép năm chưa nghỉ, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho người lao động sau khi đã nghỉ việc.
  • Người lao động đã ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên, chấm dứt hợp đồng trước hoặc đúng thời hạn.
  • Bộ phận kế toán, nhân sự chịu trách nhiệm khấu trừ, kê khai và quyết toán thuế TNCN hằng tháng, hằng năm.

Hai trường hợp khấu trừ cụ thể theo Công văn 7889/NBI-QLDN3

Hai trường hợp khấu trừ cụ thể theo Công văn 7889/NBI-QLDN3
Hai trường hợp khấu trừ cụ thể theo Công văn 7889/NBI-QLDN3

Theo hướng dẫn, doanh nghiệp cần phân biệt rõ hai tình huống sau khi xác định cách khấu trừ:

  • Trường hợp 1: người lao động ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên nhưng nghỉ làm trước khi kết thúc hợp đồng. Doanh nghiệp vẫn khấu trừ thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần như bình thường (căn cứ tiết b.2 điểm b khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC).
  • Trường hợp 2: doanh nghiệp chi trả thu nhập cho người lao động vào thời điểm sau khi hợp đồng lao động đã chấm dứt, với mức trả từ 2 triệu đồng/lần trở lên. Khi đó phải khấu trừ 10% trên thu nhập trước khi trả (căn cứ điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC).

Khi nào doanh nghiệp phải áp dụng khấu trừ theo Công văn 7889/NBI-QLDN3?

Điểm cần ghi nhớ là thời điểm xác định thu nhập chịu thuế không phải là thời điểm người lao động làm việc, mà là thời điểm doanh nghiệp thực chi trả tiền lương, tiền công. Do đó, dù công việc phát sinh trong lúc hợp đồng còn hiệu lực, nhưng nếu khoản tiền được thanh toán sau ngày hợp đồng đã chấm dứt, doanh nghiệp vẫn phải áp dụng cách khấu trừ tương ứng với thời điểm trả tiền, không phải thời điểm phát sinh công việc.

Các văn bản pháp lý liên quan đến Công văn 7889/NBI-QLDN3

Để áp dụng đúng, doanh nghiệp cần nắm rõ hệ thống văn bản làm căn cứ cho Công văn 7889/NBI-QLDN3, bao gồm cả quy định hiện hành và các đề xuất sửa đổi sắp tới:

Bảng tổng hợp các văn bản pháp lý liên quan đến Công văn 7889/NBI-QLDN3
Văn bản pháp lý Số hiệu / Ngày ban hành Nội dung liên quan
Thông tư 111/2013/TT-BTC 111/2013/TT-BTC, ngày 15/08/2013 Điều 2, Điều 8, Điều 25: quy định thu nhập chịu thuế, thời điểm xác định thu nhập chịu thuế và nguyên tắc khấu trừ thuế TNCN
Công văn 7889/NBI-QLDN3 Thuế tỉnh Ninh Bình, ngày 24/06/2026 Hướng dẫn khấu trừ thuế TNCN cho người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động
Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 Quốc hội, hiệu lực từ 01/07/2026 Điều 2: quy định căn cứ xác định cá nhân cư trú nộp thuế TNCN
Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế TNCN 2025 Bộ Tài chính, đang lấy ý kiến Điều 50: đề xuất nâng ngưỡng thu nhập vãng lai bị khấu trừ thuế từ 2 triệu lên 5 triệu đồng/lần

Lưu ý quan trọng: dự thảo Nghị định nêu trên chưa có hiệu lực thi hành. Doanh nghiệp cần tiếp tục theo dõi văn bản chính thức trước khi thay đổi ngưỡng khấu trừ đang áp dụng theo Thông tư 111/2013/TT-BTC.

Đề xuất tăng ngưỡng khấu trừ thu nhập vãng lai lên 5 triệu đồng/lần

Bên cạnh Công văn 7889/NBI-QLDN3, doanh nghiệp cũng cần theo dõi khoản 2 Điều 50 dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025. Theo đề xuất, tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công hoặc tiền thù lao cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng, kể cả người lao động đã chấm dứt hợp đồng, phải khấu trừ, khai và nộp thuế TNCN 10% nếu mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên. Trường hợp dưới 5 triệu đồng/lần, đơn vị chi trả vẫn khấu trừ 10% nếu cá nhân có yêu cầu.

Đáng chú ý, mức ngưỡng này đã qua nhiều lần điều chỉnh trong quá trình soạn thảo. Ban đầu, Bộ Tài chính chỉ đề xuất nâng ngưỡng từ 2 triệu lên 3 triệu đồng/lần. Sau khi tiếp thu ý kiến đóng góp, dự thảo mới nhất đã điều chỉnh tăng thẳng lên 5 triệu đồng/lần. Đây vẫn là đề xuất, chưa phải quy định chính thức cuối cùng, nên doanh nghiệp và cá nhân chi trả cần tiếp tục áp dụng ngưỡng 2 triệu đồng/lần theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC cho đến khi Nghị định chính thức được ban hành.

Cách xác định và khấu trừ thuế TNCN theo Công văn 7889/NBI-QLDN3 – Ví dụ thực tế

Đây là phần nhiều kế toán còn nhầm lẫn khi xử lý thực tế. Dưới đây là một ví dụ minh họa cụ thể cách áp dụng đúng theo tinh thần của Công văn 7889/NBI-QLDN3.

Người lao động B ký hợp đồng lao động 12 tháng tại công ty Y, chính thức nghỉ việc từ ngày 01/05/2026. Đến ngày 15/06/2026, công ty Y mới thanh toán lương tháng 4 còn nợ và trợ cấp thôi việc, tổng cộng 15.000.000 đồng. Vì thời điểm chi trả (15/06/2026) là sau khi hợp đồng đã chấm dứt, và mức trả từ 2 triệu đồng/lần trở lên, kế toán phải khấu trừ 10% tương đương 1.500.000 đồng trước khi trả. Người lao động B thực nhận 13.500.000 đồng, kèm chứng từ khấu trừ thuế theo quy định.

Nếu B chỉ có duy nhất khoản thu nhập này trong năm và ước tính thu nhập chịu thuế sau giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế, B có thể làm cam kết theo mẫu quy định gửi công ty để tạm thời chưa bị khấu trừ. Điều kiện bắt buộc là B phải đã đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm làm cam kết.

Cần lưu ý thêm: nếu trong 15.000.000 đồng nói trên có phần là trợ cấp thôi việc chi đúng theo quy định của Bộ luật Lao động, phần trợ cấp thôi việc đó không thuộc thu nhập chịu thuế theo tiết b.6 khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Kế toán chỉ áp dụng ngưỡng 2 triệu đồng/lần và tỷ lệ khấu trừ 10% đối với phần lương, tiền công còn lại, không tính trên toàn bộ số tiền chi trả.

Bảng tổng hợp cách khấu trừ thuế TNCN khi chi trả thu nhập sau khi người lao động nghỉ việc
Trường hợp Thời điểm chi trả Cách khấu trừ Căn cứ pháp lý
HĐLĐ từ 3 tháng, nghỉ trước hạn Trong lúc hợp đồng còn hiệu lực Biểu thuế lũy tiến từng phần Tiết b.2 điểm b khoản 1 Điều 25 TT 111/2013
Trả thu nhập sau khi đã chấm dứt HĐLĐ, từ 2 triệu đồng/lần Sau khi HĐLĐ đã kết thúc Khấu trừ 10% trước khi trả Điểm i khoản 1 Điều 25 TT 111/2013
NLĐ đủ điều kiện làm cam kết Sau khi HĐLĐ đã kết thúc Tạm thời chưa khấu trừ Điểm i khoản 1 Điều 25 TT 111/2013 (phần cam kết)
Theo dự thảo Nghị định mới (chưa hiệu lực) Sau khi HĐLĐ đã kết thúc, từ 5 triệu đồng/lần (đề xuất) Khấu trừ 10% trước khi trả Điều 50 dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật TNCN 2025

Case Study: Doanh nghiệp tại Ninh Bình xử lý khấu trừ thuế sau khi người lao động nghỉ việc

Bối cảnh

Công ty TNHH Z, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất giày da, có khoảng 800 lao động tại Ninh Bình. Mỗi tháng, công ty có trung bình 15 đến 20 người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng khoản lương tháng cuối, phép năm chưa nghỉ và trợ cấp thôi việc thường được thanh toán vào kỳ lương kế tiếp, tức sau ngày nghỉ việc chính thức.

Cách xử lý theo hướng dẫn từ Công văn 7889/NBI-QLDN3

Sau khi tiếp cận nội dung Công văn 7889/NBI-QLDN3, bộ phận kế toán công ty Z thực hiện rà soát lại toàn bộ danh sách chi trả cho người lao động đã nghỉ việc trong quý II năm 2026, phân loại theo hai nhóm: khoản trả trong lúc hợp đồng còn hiệu lực và khoản trả sau khi hợp đồng đã chấm dứt, từ đó áp dụng đúng biểu thuế tương ứng cho từng nhóm.

Kết quả đo lường được

  • Phát hiện 12 trường hợp trong quý II/2026 bị áp sai biểu thuế lũy tiến thay vì khấu trừ 10% theo đúng quy định.
  • Số thuế cần điều chỉnh, hoàn trả cho người lao động và kê khai bổ sung khoảng 18.000.000 đồng.
  • Doanh nghiệp chủ động điều chỉnh trước kỳ quyết toán, tránh bị cơ quan thuế truy thu và xử phạt chậm nộp khi thanh tra, kiểm tra sau này.

Nhận định chuyên gia: Rủi ro doanh nghiệp thường gặp khi khấu trừ thuế sau khi người lao động nghỉ việc

Từ kinh nghiệm thực tế tư vấn thuế cho nhiều doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ, chúng tôi ghi nhận bốn rủi ro phổ biến nhất khi doanh nghiệp áp dụng quy định liên quan đến Công văn 7889/NBI-QLDN3.

  • Rủi ro 1 – Nhầm thời điểm xác định thu nhập: kế toán căn cứ vào thời điểm phát sinh công việc thay vì thời điểm thực chi trả, dẫn đến áp sai biểu thuế.
  • Rủi ro 2 – Áp sai biểu thuế: dùng biểu lũy tiến từng phần cho khoản chi trả sau khi hợp đồng đã chấm dứt, trong khi đúng ra phải khấu trừ 10%.
  • Rủi ro 3 – Thiếu hồ sơ cam kết: không lưu bản cam kết của người lao động khi tạm thời chưa khấu trừ, khiến hồ sơ thiếu căn cứ khi cơ quan thuế đối chiếu.
  • Rủi ro 4 – Chưa cập nhật ngưỡng mới: nếu dự thảo Nghị định được thông qua với ngưỡng 5 triệu đồng/lần, doanh nghiệp cần điều chỉnh kịp thời quy trình kế toán, tránh áp dụng theo ngưỡng cũ đã hết hiệu lực.

Theo góc nhìn từ MAN – Master Accountant Network, phần lớn sai sót liên quan đến Công văn 7889/NBI-QLDN3 xuất phát từ việc doanh nghiệp không tách bạch rõ ràng giữa “ngày nghỉ việc thực tế” và “ngày thanh toán thực tế” trên hệ thống bảng lương. Các chuyên gia tại MAN với hơn 30 năm kinh nghiệm lưu ý rằng việc xây dựng quy trình đối chiếu hai mốc thời gian này ngay từ khâu nhân sự sẽ giúp doanh nghiệp giảm đáng kể rủi ro thuế và tối ưu chi phí thuế tại Việt Nam khi quyết toán cuối năm.

Kết luận

Công văn 7889/NBI-QLDN3 giúp doanh nghiệp và người lao động có căn cứ rõ ràng để xác định cách khấu trừ thuế TNCN đúng quy định khi chi trả thu nhập sau khi hợp đồng lao động đã chấm dứt. Việc phân biệt chính xác thời điểm chi trả, mức thu nhập và tình trạng hợp đồng lao động là chìa khóa để tránh sai sót, hạn chế rủi ro bị truy thu, xử phạt khi cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra.

Các dịch vụ thuế tại MAN – Master Accountant Network

Thông tin liên hệ dịch vụ tại MAN – Master Accountant Network

Phụ trách sản xuất và kiểm duyệt nội dung chuyên môn bởi: Ông Lê Hoàng Tuyên – Sáng lập viên (Founder) & CEO MAN – Master Accountant Network, Kiểm toán viên CPA Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán, Thuế và Tư vấn Tài chính doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp về Công văn 7889/NBI-QLDN3

Công văn 7889/NBI-QLDN3 do cơ quan nào ban hành? 

Thuế tỉnh Ninh Bình ban hành Công văn 7889/NBI-QLDN3 vào ngày 24/06/2026, trả lời vướng mắc cụ thể của doanh nghiệp về khấu trừ thuế TNCN sau khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động.

Doanh nghiệp trả lương cho người lao động đã nghỉ việc thì khấu trừ thuế thế nào?

Nếu mức trả từ 2 triệu đồng/lần trở lên và thời điểm trả là sau khi hợp đồng đã chấm dứt, doanh nghiệp khấu trừ 10% trên thu nhập trước khi trả cho người lao động.

Người lao động có thể được tạm thời không bị khấu trừ 10% không?

Có, nếu người lao động chỉ có duy nhất khoản thu nhập này và ước tính sau giảm trừ gia cảnh chưa đến mức nộp thuế, người lao động có thể làm cam kết gửi doanh nghiệp, với điều kiện đã có mã số thuế tại thời điểm cam kết.

Ngưỡng 2 triệu đồng/lần có thể thay đổi trong thời gian tới không? 

Có khả năng. Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 đang đề xuất nâng ngưỡng này lên 5 triệu đồng/lần, nhưng đây vẫn là đề xuất, chưa phải quy định chính thức.

Nếu doanh nghiệp đã khấu trừ sai theo Công văn 7889/NBI-QLDN3 thì xử lý ra sao?

Doanh nghiệp cần rà soát, điều chỉnh lại số thuế đã khấu trừ, hoàn trả phần chênh lệch cho người lao động nếu khấu trừ thừa, đồng thời kê khai bổ sung với cơ quan thuế để tránh bị truy thu và phạt khi quyết toán năm.

ZaloPhone