Trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, việc xử lý và thanh lý tài sản bảo đảm qua cơ quan thi hành án diễn ra ngày càng phổ biến. Công văn 3147/CT-CS do Cục Thuế ban hành ngày 19/5/2026 đã làm rõ nguyên tắc ghi nhận chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các giao dịch này. Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp vẫn nhầm lẫn khi cho rằng quyết định thi hành án hoặc biên lai của cơ quan tư pháp tự động đủ điều kiện làm chứng từ thuế, dẫn đến nguy cơ bị loại chi phí và truy thu thuế khi quyết toán.
Thực tế thanh tra kiểm tra thuế những năm gần đây chứng kiến hàng loạt doanh nghiệp bị truy thu thuế lên đến hàng tỷ đồng chỉ vì thiếu hóa đơn hợp lệ khi mua tài sản đấu giá thi hành án. Việc không cập nhật kịp thời các sửa đổi quan trọng tại các Nghị định mới ban hành giai đoạn 2025 – 2026 khiến công tác kế toán luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nghiêm trọng. Bài viết dưới đây từ các chuyên gia hàng đầu sẽ mổ xẻ chi tiết nội dung Công văn 3147/CT-CS để giúp doanh nghiệp bảo vệ tối đa lợi ích hợp pháp của mình.
Thông tin nhanh dành cho nhà quản lý về Công văn 3147/CT-CS
Công văn 3147/CT-CS là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Cục Thuế ban hành ngày 19/05/2026 về việc xác định hóa đơn chứng từ hợp lệ đối với chi phí xử lý tài sản bảo đảm theo yêu cầu thi hành án. Văn bản này làm rõ rằng các quyết định thi hành án, biên lai hay phiếu thu của Tòa án không được coi là chứng từ hợp lệ để tính chi phí được trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp. Quy định áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có phát sinh hoạt động mua hoặc xử lý tài sản thi hành án tại Việt Nam từ năm 2026.
Thực trạng xử lý tài sản thi hành án và bối cảnh ra đời Công văn 3147/CT-CS

Trong hoạt động thương mại, việc các doanh nghiệp phải xử lý tài sản bảo đảm thông qua cơ quan thi hành án để thu hồi nợ hoặc giải quyết tranh chấp diễn ra liên tục. Khi doanh nghiệp mua lại các tài sản này từ cơ quan thi hành án hoặc tham gia đấu giá, họ luôn có nhu cầu hạch toán giá trị tài sản vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, ranh giới giữa luật dân sự và luật thuế thường tạo ra những khoảng trống pháp lý lớn khiến kế toán lúng túng.
Để giải quyết các vướng mắc kéo dài, Thuế thành phố Huế đã gửi các công văn số 262/HUE-NVDTPC ngày 13/2/2026 và công văn số 411/HUE-NVDTPC ngày 17/3/2026. Các văn bản này yêu cầu hướng dẫn cụ thể về việc xử lý tài sản bảo đảm theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự. Từ thực tế tranh chấp và sự không đồng nhất trong cách hiểu của người nộp thuế, Cục Thuế đã chính thức ban hành Công văn 3147/CT-CS để thiết lập một hành lang xử lý thống nhất trên toàn quốc.
Sự xuất hiện của hướng dẫn này nhằm chuẩn hóa quy trình sử dụng hóa đơn chứng từ theo các quy định mới nhất. Điều này đặc biệt quan trọng khi hệ thống pháp luật thuế vừa trải qua những đợt cải cách lớn vào cuối năm 2025. Doanh nghiệp cần hiểu rõ bối cảnh này để thấy rằng cơ quan thuế đang ngày càng siết chặt tính pháp lý của chứng từ đầu vào.
Văn bản gốc được ký thay Cục trưởng bởi Trưởng ban Ban Chính sách, Thuế quốc tế Nguyễn Thị Thanh Hằng và được gửi báo cáo trực tiếp tới Phó Tổng cục trưởng Đặng Ngọc Minh. Điều này thể hiện tính pháp lý tối cao và sự đồng thuận cao trong hệ thống quản lý thuế từ trung ương đến địa phương về vấn đề này.
Phân tích nội dung pháp lý cốt lõi trong Công văn 3147/CT-CS

Để hiểu rõ lý do tại sao cơ quan thuế từ chối các chứng từ của Tòa án, chúng ta cần đi sâu phân tích từng căn cứ pháp lý được Cục Thuế dẫn chiếu trực tiếp trong văn bản hướng dẫn này.
Căn cứ từ Bộ Luật dân sự 2015 về quyền tài sản
Trước hết, Công văn 3147/CT-CS viện dẫn Điều 115 Bộ Luật dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 quy định về quyền tài sản:
“Điều 115. Quyền tài sản
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”
Quy định này làm rõ rằng quyền sử dụng đất hay các tài sản được đem ra xử lý thi hành án đều là quyền tài sản trị giá được bằng tiền. Khi các tài sản này được chuyển nhượng, đấu giá để thi hành án, chúng vẫn phát sinh các nghĩa vụ tài chính và thuế tương ứng. Do đó, hoạt động chuyển giao tài sản này không nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp.
Quyết định thi hành án và biên lai của Tòa án có được coi là chứng từ hợp lệ?
Một trong những khẳng định quan trọng nhất của Công văn 3147/CT-CS là loại bỏ tính hợp lệ về mặt thuế của các chứng từ do cơ quan thi hành án hoặc Tòa án cấp. Để đưa ra kết luận này, Cục Thuế đã căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 3 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ:
“Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
- Hóa đơn là chứng từ kế toán do tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Hóa đơn được thể hiện theo hình thức hóa đơn điện tử hoặc hóa đơn do cơ quan thuế đặt in.
…
- Chứng từ là tài liệu dùng để ghi nhận thông tin về các khoản thuế khấu trừ, các khoản thu thuế, phí và lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật quản lý thuế. Chứng từ theo quy định tại Nghị định này bao gồm chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, biên lai thuế, phí, lệ phí được thể hiện theo hình thức điện tử hoặc đặt in, tự in.”
Dựa trên định nghĩa pháp lý nghiêm ngặt này, quyết định thi hành án, biên lai thu tiền, phiếu thu tiền của Tòa án hoàn toàn không phải là hóa đơn và cũng không thuộc danh mục chứng từ theo quy định tại khoản 4 Điều 3 nêu trên. Do đó, doanh nghiệp tuyệt đối không được dùng các loại giấy tờ này làm căn cứ ghi nhận chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Sự không hợp lệ này xuất phát từ bản chất của chứng từ thu tiền của cơ quan tư pháp. Các biên lai, phiếu thu của Tòa án chỉ có giá trị xác nhận việc hoàn thành nghĩa vụ tài chính trong tố tụng hoặc thi hành án dân sự. Chúng không mang tính chất của một chứng từ kế toán phản ánh hoạt động bán hàng hóa hay cung cấp dịch vụ chịu thuế. Việc nhầm lẫn giữa giá trị pháp lý dân sự và giá trị pháp lý thuế là nguyên nhân chính khiến doanh nghiệp bị loại chi phí khi quyết toán.
Để được chấp nhận là chi phí hợp lý, mọi khoản chi của doanh nghiệp bắt buộc phải đáp ứng điều kiện về hóa đơn và chứng từ thanh toán theo luật thuế. Công văn 3147/CT-CS đã tái khẳng định nguyên tắc tối cao này, không có ngoại lệ cho các tài sản có nguồn gốc từ thi hành án. Kế toán cần dừng ngay việc hạch toán chi phí dựa trên các biên lai thu tiền của cơ quan thi hành án.
Quy định mới về cấp hóa đơn điện tử theo từng lần phát sinh
Để tháo gỡ nút thắt về hóa đơn cho các tài sản đấu giá thi hành án, Công văn 3147/CT-CS dẫn chiếu đến tiết a.2 điểm a khoản 2 Điều 13 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a khoản 10 Điều 1 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP) quy định về cấp hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế theo từng lần phát sinh:
“10. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và điểm c, điểm g khoản 3 Điều 13 như sau:
- a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Quy định về cấp và kê khai xác định nghĩa vụ thuế khi cơ quan thuế cấp hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế theo từng lần phát sinh như sau:
- a) Loại hóa đơn cấp theo từng lần phát sinh
…
a.2) Cấp hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế theo từng lần phát sinh là hóa đơn giá trị gia tăng trong các trường hợp:
a.2.1) Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác thuộc diện nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuộc các trường hợp sau:
…
a.2.1.3) Bị cơ quan thuế cưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn.
…
a.2.2) Tổ chức, cơ quan nhà nước không thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có bán đấu giá tài sản (trừ trường hợp bán tài sản công nêu tại khoản 3 Điều 8 Nghị định này), trường hợp giá trúng đấu giá là giá bán đã có thuế giá trị gia tăng được công bố rõ trong hồ sơ bán đấu giá do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì được cấp hóa đơn giá trị gia tăng để giao cho người mua.”
Quy định chi tiết này mang lại giải pháp tháo gỡ cực kỳ rõ ràng cho doanh nghiệp:
Thứ nhất, đối với trường hợp doanh nghiệp có tài sản bị xử lý nhưng đang bị cưỡng chế hóa đơn (theo điểm a.2.1.3), họ vẫn thuộc diện được cơ quan thuế xem xét cấp hóa đơn điện tử lẻ có mã theo từng lần phát sinh để thực hiện bàn giao tài sản đấu giá cho bên mua.
Thứ hai, đối với các tổ chức, cơ quan nhà nước không nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ khi đứng ra bán đấu giá tài sản (theo điểm a.2.2), nếu giá trúng đấu giá được phê duyệt là giá đã có thuế GTGT và được nêu rõ trong hồ sơ đấu giá, cơ quan thuế sẽ thực hiện cấp hóa đơn giá trị gia tăng lẻ để giao cho người mua tài sản.
Điều kiện bắt buộc là giá trúng đấu giá phải là giá bán đã có thuế giá trị gia tăng được công bố rõ ràng trong hồ sơ bán đấu giá do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Cơ chế này đảm bảo người mua tài sản có đầy đủ hóa đơn hợp pháp để hạch toán nguyên giá TSCĐ hoặc chi phí sản xuất kinh doanh. Đây là giải pháp pháp lý toàn diện giúp dòng tiền mua tài sản của doanh nghiệp được công nhận một cách hợp pháp trước cơ quan thuế.
Điều kiện khấu trừ chi phí thuế TNDN theo Nghị định 320/2025/NĐ-CP
Một điểm mới cực kỳ quan trọng được trích dẫn trong Công văn 3147/CT-CS là các điều kiện tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 320/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ (văn bản còn được gọi là Nghị định số 320/2025/NĐ-CP). Nghị định này quy định chi tiết các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN từ năm 2026 trở đi:
“Điều 9. Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
- Trừ các khoản chi không được trừ quy định tại Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:
- a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm cả khoản chi phí bổ sung được trừ theo tỷ lệ phần trăm tính trên chi phí thực tế phát sinh trong kỳ tính thuế liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp;
- b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
- c) Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.”
Quy định ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ 05 triệu đồng trở lên là một sự thay đổi lớn từ năm 2026 mà kế toán cần đặc biệt lưu ý. Hầu hết các tài sản thi hành án đều có giá trị vượt xa con số 5 triệu đồng. Vì thế, nếu doanh nghiệp thanh toán bằng tiền mặt cho cơ quan thi hành án hoặc bên đấu giá thì toàn bộ chi phí này cũng sẽ bị loại bỏ hoàn toàn, kể cả khi sau đó có xuất trình được hóa đơn hợp lệ.
Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hướng dẫn mới từ Cục Thuế
Sự rõ ràng trong Công văn 3147/CT-CS tác động mạnh mẽ đến nhiều nhóm đối tượng tham gia vào chuỗi giao dịch xử lý tài sản bảo đảm. Việc nhận diện đúng vai trò và trách nhiệm của từng bên giúp hạn chế tối đa các tranh chấp pháp lý không đáng có.
- Doanh nghiệp mua tài sản đấu giá: Đây là nhóm chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất. Họ là bên bỏ tiền ra mua tài sản và có nhu cầu hạch toán chi phí đầu vào. Nếu không chủ động yêu cầu cơ quan bán đấu giá và cơ quan thuế phối hợp xuất hóa đơn lẻ, họ sẽ phải gánh chịu toàn bộ thiệt hại tài chính do bị loại chi phí.
- Cơ quan Thi hành án dân sự và tổ chức đấu giá: Các đơn vị này phải nắm rõ quy định tại Nghị định 70/2025/NĐ-CP để lập hồ sơ đấu giá chuẩn xác. Họ có trách nhiệm công bố rõ ràng cơ cấu giá đã bao gồm thuế GTGT và hỗ trợ người mua thực hiện các thủ tục xin cấp hóa đơn lẻ tại cơ quan thuế quản lý.
- Doanh nghiệp có tài sản bị xử lý: Nhóm doanh nghiệp này thường đang gặp khó khăn về tài chính hoặc bị cưỡng chế hóa đơn. Họ cần hiểu rằng việc bàn giao tài sản để thi hành nghĩa vụ nợ vẫn phải tuân thủ các quy định về hóa đơn nhằm giải quyết dứt điểm công nợ với các bên liên quan.
- Cơ quan Thuế các địa phương: Các chi cục thuế và cục thuế địa phương, điển hình như Thuế thành phố Huế, sử dụng văn bản này làm cẩm nang nghiệp vụ thống nhất để hướng dẫn, thanh tra và xử lý các hồ sơ quyết toán thuế TNDN có phát sinh nghiệp vụ mua tài sản thi hành án.
Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến Công văn 3147/CT-CS

Để có cái nhìn toàn diện và áp dụng đúng đắn tinh thần của Công văn 3147/CT-CS, doanh nghiệp cần hệ thống hóa các văn bản pháp lý nền tảng liên quan. Dưới đây là bảng tổng hợp chi tiết các quy định pháp luật hiện hành làm căn cứ cho hướng dẫn này.
Bảng tổng hợp hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến Công văn 3147/CT-CS
| Số hiệu văn bản | Ngày ban hành | Nội dung tóm lược liên quan | Vai trò trong xử lý chi phí |
| Bộ Luật dân sự số 91/2015/QH13 | 24/11/2015 | Điều 115 định nghĩa về quyền tài sản bao gồm quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và các quyền trị giá được bằng tiền khác. | Làm cơ sở xác định bản chất pháp lý của tài sản bảo đảm đem ra đấu giá. |
| Nghị định số 123/2020/NĐ-CP | 19/10/2020 | Khoản 1, khoản 4 Điều 3 định nghĩa rõ ràng về hóa đơn và chứng từ hợp pháp chịu sự quản lý của cơ quan thuế. | Loại trừ biên lai của Tòa án ra khỏi danh mục chứng từ chi phí hợp lệ. |
| Nghị định số 70/2025/NĐ-CP | Năm 2025 | Điểm a khoản 10 Điều 1 sửa đổi Điều 13 Nghị định 123/2020/NĐ-CP về việc cấp hóa đơn lẻ có mã của cơ quan thuế. | Tạo hành lang pháp lý để cấp hóa đơn lẻ cho tài sản đấu giá thi hành án. |
| Nghị định số 320/2025/NĐ-CP | 15/12/2025 | Khoản 1 Điều 9 quy định về điều kiện chi phí được trừ và hạ ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt xuống từ 05 triệu đồng. | Điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp được tính chi phí khi xác định thuế TNDN từ 2026. |
Case Study: Bài học đắt giá về rủi ro thuế khi mua tài sản thi hành án
Để giúp doanh nghiệp hình dung rõ hơn về mức độ ảnh hưởng của quy định này, các chuyên gia tại MAN đã tổng hợp một tình huống thực tế xảy ra tại thị trường Việt Nam vào đầu năm 2026.
Tình huống phát sinh tại doanh nghiệp
Tháng 2 năm 2026, Công ty Cổ phần Cơ khí Nam Phát (gọi tắt là Công ty Nam Phát) tham gia đấu giá thành công một nhà xưởng sản xuất tại Huế do Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh thừa thừa kế xử lý từ một con nợ. Giá trúng đấu giá được phê duyệt là 8 tỷ đồng. Toàn bộ hồ sơ đấu giá và quyết định bàn giao tài sản của cơ quan thi hành án đều ghi nhận số tiền này.
Sau khi thanh toán đủ 8 tỷ đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của Cơ quan Thi hành án, Công ty Nam Phát nhận được Quyết định giao tài sản và Biên lai thu tiền của cơ quan thi hành án cấp. Tin tưởng vào tính pháp lý tuyệt đối của các văn bản này, bộ phận kế toán của Nam Phát đã tiến hành ghi nhận tăng nguyên giá tài sản cố định là nhà xưởng và thực hiện trích khấu hao vào chi phí sản xuất kinh doanh năm 2026 với số tiền trích khấu hao là 800 triệu đồng.
Kết quả thanh tra thuế và mức phạt áp dụng
Vào cuối năm 2026, đoàn thanh tra của cơ quan thuế tiến hành kiểm tra quyết toán thuế TNDN tại Công ty Nam Phát. Khi rà soát hồ sơ tăng tài sản cố định đối với nhà xưởng mua đấu giá, đoàn thanh tra đã yêu cầu công ty xuất trình hóa đơn giá trị gia tăng liên quan đến giao dịch này. Kế toán công ty giải trình rằng đây là tài sản thi hành án nên chỉ có quyết định của cơ quan thi hành án và biên lai thu tiền kèm theo.
Áp dụng đúng tinh thần hướng dẫn của Công văn 3147/CT-CS, đoàn thanh tra thuế đã bác bỏ toàn bộ chứng từ biên lai thu tiền của cơ quan thi hành án và không chấp nhận khoản chi phí khấu hao 800 triệu đồng này là chi phí được trừ khi tính thuế TNDN. Hậu quả pháp lý mà Công ty Nam Phát phải gánh chịu bao gồm:
- Bị loại 800 triệu đồng chi phí được trừ, làm tăng thu nhập chịu thuế tương ứng.
- Truy thu thuế TNDN với mức thuế suất 20%, tương đương số tiền phải nộp thêm là 160 triệu đồng.
- Phạt hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp ở mức 20% trên số thuế truy thu, tương đương 32 triệu đồng.
- Tính tiền chậm nộp tiền thuế tính từ ngày hết hạn nộp tờ khai quyết toán thuế đến ngày thực nộp.
Giải pháp khắc phục từ góc nhìn của MAN
Nhận thấy rủi ro tài chính quá lớn, ban lãnh đạo Công ty Nam Phát đã liên hệ với MAN – Master Accountant Network để tìm kiếm giải pháp tháo gỡ. Sau khi nghiên cứu kỹ hồ sơ thực tế và đối chiếu với điểm a.2.2 khoản 10 Điều 1 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP, các chuyên gia của chúng tôi đã thực hiện các bước hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục hậu quả:
- Bước 1: MAN đại diện doanh nghiệp làm việc với Cơ quan Thi hành án dân sự và tổ chức đấu giá để rà soát lại phương án bán đấu giá đã được phê duyệt, xác định rõ giá trúng đấu giá 8 tỷ đồng đã bao gồm thuế GTGT.
- Bước 2: Hỗ trợ chuẩn bị bộ hồ sơ đề nghị cấp hóa đơn điện tử có mã theo từng lần phát sinh gửi lên Chi cục Thuế quản lý trực tiếp nơi có tài sản đấu giá.
- Bước 3: Cơ quan thuế tiến hành kiểm tra hồ sơ và thực hiện cấp hóa đơn giá trị gia tăng lẻ cho giao dịch mua tài sản này của Công ty Nam Phát theo đúng quy định.
- Bước 4: Nam Phát bổ sung hóa đơn hợp pháp vào hồ sơ giải trình với đoàn thanh tra thuế để được chấp nhận lại khoản chi phí khấu hao TSCĐ, giúp giảm thiểu tối đa số tiền thuế bị truy thu và tiền phạt chậm nộp.
Nhận định chuyên gia MAN về quản trị rủi ro thuế từ Công văn 3147/CT-CS
Các chuyên gia tại MAN với 30 năm kinh nghiệm lưu ý rằng rủi ro lớn nhất của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là thói quen hạch toán dựa trên kinh nghiệm cũ và thiếu sự kết nối chặt chẽ giữa bộ phận pháp chế với bộ phận kế toán. Khi thực hiện các giao dịch mua bán tài sản đặc thù như tài sản thi hành án, doanh nghiệp thường chỉ chú trọng đến việc hoàn tất thủ tục bàn giao quyền sở hữu mà bỏ quên việc hoàn thiện hồ sơ thuế.
Theo góc nhìn từ MAN, sự thay đổi về ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt từ mức 20 triệu đồng xuống còn 5 triệu đồng kể từ năm 2026 theo Nghị định 320/2025/NĐ-CP là một ngòi nổ rủi ro rất lớn. Nhiều doanh nghiệp khi thực hiện nộp các khoản phí liên quan đến đấu giá, đặt cọc hoặc các khoản chi phí phụ trợ cho cơ quan thi hành án vẫn sử dụng tiền mặt vì cho rằng đó là các cơ quan nhà nước. Chỉ một sơ suất nhỏ này cũng đủ để toàn bộ chuỗi chi phí liên quan bị cơ quan thuế từ chối khấu trừ.
Để quản trị rủi ro thuế một cách tối ưu nhất đối với các giao dịch mua tài sản thi hành án, các chuyên gia của MAN khuyến nghị quy trình kiểm soát 3 bước nghiêm ngặt:
- Đánh giá hồ sơ trước khi xuống tiền: Trước khi tham gia đấu giá hoặc mua tài sản từ cơ quan thi hành án, bộ phận kế toán phải kiểm tra kỹ quyết định phê duyệt phương án bán đấu giá để chắc chắn giá bán đã bao gồm thuế GTGT và cơ quan bán đấu giá có cam kết hỗ trợ làm thủ tục xuất hóa đơn lẻ hay không.
- Tuyệt đối tuân thủ phương thức thanh toán: Mọi khoản chuyển tiền, từ tiền đặt cọc đấu giá đến tiền thanh toán mua tài sản, phải được thực hiện thông qua tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp đến đúng tài khoản tạm giữ của cơ quan thi hành án hoặc tổ chức đấu giá. Không thực hiện bất kỳ giao dịch tiền mặt nào vượt quá 5 triệu đồng.
- Yêu cầu xuất hóa đơn ngay khi nhận bàn giao: Ngay sau khi có quyết định giao tài sản, doanh nghiệp phải chủ động phối hợp với các bên liên quan để nộp hồ sơ xin cấp hóa đơn điện tử lẻ có mã của cơ quan thuế. Không chờ đến kỳ quyết toán thuế năm mới bắt đầu thu thập chứng từ này.
Bảng so sánh tính pháp lý của các chứng từ liên quan đến thi hành án
Để giúp các nhân sự kế toán dễ dàng phân biệt và áp dụng trong thực tế, dưới đây là bảng so sánh chi tiết tính pháp lý của từng loại chứng từ thường gặp khi doanh nghiệp mua tài sản qua cơ quan thi hành án.
| Loại chứng từ | Đơn vị phát hành | Giá trị pháp lý dân sự | Tính hợp lệ để tính chi phí thuế TNDN | Hành động bắt buộc của doanh nghiệp |
| Quyết định thi hành án | Cơ quan Thi hành án dân sự | Xác lập quyền sở hữu và sử dụng tài sản hợp pháp cho bên mua. | Không hợp lệ | Lưu trữ trong hồ sơ nguồn gốc tài sản, không dùng làm chứng từ hạch toán chi phí. |
| Biên lai thu tiền / Phiếu thu của Tòa án | Tòa án nhân dân hoặc Cơ quan Thi hành án | Xác nhận bên mua đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán tiền cho cơ quan tư pháp. | Không hợp lệ | Chỉ dùng để đối chiếu công nợ, tuyệt đối không hạch toán vào chi phí được trừ. |
| Hóa đơn điện tử có mã theo từng lần phát sinh | Cơ quan Thuế nơi có tài sản | Ghi nhận hoạt động bán hàng hóa, chuyển nhượng tài sản chịu thuế theo luật định. | Hợp lệ | Bắt buộc phải có để hạch toán nguyên giá TSCĐ và tính khấu hao vào chi phí được trừ. |
| Chứng từ chuyển tiền qua ngân hàng | Ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp mở tài khoản | Xác nhận dòng tiền thanh toán thực tế không dùng tiền mặt của doanh nghiệp. | Hợp lệ và bắt buộc | Phải lưu trữ kèm theo hóa đơn điện tử lẻ để chứng minh điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt. |
Kết luận
Công văn 3147/CT-CS là một lời nhắc nhở đanh thép đối với các doanh nghiệp về tầm quan trọng của việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về hóa đơn chứng từ trong kỷ nguyên số. Việc hiểu sai hoặc áp dụng hời hợt các quy định pháp luật thuế không chỉ làm mất đi cơ hội tối ưu hóa chi phí hợp pháp mà còn đẩy doanh nghiệp vào những rủi ro pháp lý và tổn thất tài chính không đáng có khi đối diện với các đợt thanh tra thuế.
MAN – Master Accountant Network với đội ngũ chuyên gia hơn 30 năm kinh nghiệm thực tế tại Việt Nam tự hào là đối tác tin cậy chuyên cung cấp các giải pháp toàn diện: dịch vụ quyết toán thuế, dịch vụ kế toán thuế, dịch vụ báo cáo thuế và dịch vụ tư vấn thuế chuyên sâu. Chúng tôi cam kết giúp doanh nghiệp kiểm soát chặt chẽ rủi ro tài chính, tối ưu hóa nghĩa vụ thuế và xây dựng hệ thống kế toán vững mạnh để phát triển bền vững.
Thông tin liên hệ dịch vụ tại MAN – Master Accountant Network
- Địa chỉ: Số 19A, đường 43, phường Tân Thuận, TP. Hồ Chí Minh
- Mobile/Zalo: 0903 963 163 – 0903 428 622
- Email: man@man.net.vn
Phụ trách sản xuất nội dung bởi: Ông Lê Hoàng Tuyên – Sáng lập viên (Founder) & CEO MAN – Master Accountant Network, Kiểm toán viên CPA Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm trong ngành Kế toán, Kiểm toán và Tư vấn Tài chính.
Những câu hỏi thường gặp về Công văn 3147/CT-CS
Doanh nghiệp bắt buộc phải có hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế được cấp lẻ theo từng lần phát sinh cho giao dịch bán đấu giá tài sản đó, kèm theo quyết định giao tài sản của cơ quan thi hành án và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng.
Các chứng từ này có giá trị pháp lý dân sự tuyệt đối để chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp đối với tài sản và xác nhận doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán tiền, nhưng không có giá trị thay thế hóa đơn trong luật thuế.
Thủ tục xin cấp hóa đơn lẻ được thực hiện tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức bán đấu giá hoặc nơi có tài sản cố định là bất động sản được đem ra xử lý thi hành án.
Đúng vậy. Theo quy định mới tại Nghị định 320/2025/NĐ-CP áp dụng cho kỳ tính thuế từ năm 2026, mọi khoản chi từ 05 triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì mới được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
Không. Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan nhà nước không có chức năng kinh doanh nên không thể tự xuất hóa đơn. Cơ quan thuế sẽ là đơn vị thực hiện cấp hóa đơn điện tử lẻ có mã dựa trên hồ sơ đề nghị của các bên liên quan. Doanh nghiệp mua tài sản đấu giá từ cơ quan thi hành án cần yêu cầu chứng từ gì để được tính chi phí được trừ?
Quyết định thi hành án và biên lai thu tiền của Tòa án có giá trị pháp lý gì nếu không được tính là chi phí thuế?
Việc cấp hóa đơn lẻ theo từng lần phát sinh cho tài sản đấu giá được thực hiện tại đâu?
Nếu tài sản đấu giá có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên, bắt buộc phải thanh toán không dùng tiền mặt đúng không?
Cơ quan thi hành án có phải là đối tượng trực tiếp xuất hóa đơn cho doanh nghiệp không?



