Ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản của khách hàng cho cơ quan thuế là quy định chính thức từ ngày 1/7/2026, theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý thuế 2025. Đây là bước mở rộng so với cơ chế cũ, khi ngân hàng chỉ cung cấp thông tin định danh tài khoản, chưa bắt buộc chia sẻ số dư định kỳ. Với khoảng 250 triệu tài khoản ngân hàng ngành thuế đang nắm dữ liệu, trong đó khoảng 200 triệu là tài khoản cá nhân, quy định này ảnh hưởng đến hầu hết cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp có giao dịch ngân hàng tại Việt Nam.
Không ít chủ doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh tỏ ra lo lắng khi nghe tin ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản cho cơ quan thuế, vì cho rằng đây là sự xâm phạm quyền riêng tư tài chính. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, đây là nghĩa vụ được luật hóa rõ ràng, có phạm vi và mục đích cụ thể. Bài viết dưới đây, được biên soạn dưới góc nhìn chuyên môn của MAN – Master Accountant Network, đơn vị tư vấn thuế, kế toán, kiểm toán với hơn 30 năm kinh nghiệm thực tế tại Việt Nam, sẽ phân tích toàn diện quy định này.
| Ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản của khách hàng cho cơ quan thuế là nghĩa vụ định kỳ hằng tháng của tổ chức tín dụng, trung gian thanh toán gửi dữ liệu tài khoản, giao dịch, số dư của người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế. |
| Cơ sở pháp lý: khoản 7 Điều 61 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, hiệu lực từ 1/7/2026, hướng dẫn Luật Quản lý thuế 2025. |
| Đối tượng thực hiện: ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức trung gian thanh toán, tổ chức thẻ quốc tế. |
| Đối tượng bị áp dụng: mọi người nộp thuế có tài khoản thanh toán, bao gồm cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp. |
| Thời điểm thực hiện: định kỳ, gửi dữ liệu trước ngày 10 hằng tháng, hoặc theo yêu cầu đột xuất khi có giao dịch bất thường. |
Ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản của khách hàng cho cơ quan thuế là gì?

Theo khoản 3 Điều 61 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và tổ chức thẻ quốc tế có trách nhiệm cung cấp thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế. Đồng thời, các tổ chức này phải phối hợp với cơ quan thuế khi phát hiện giao dịch bất thường cần kiểm tra tình trạng tuân thủ nghĩa vụ thuế.
Nói một cách dễ hiểu, ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản của khách hàng không chỉ dừng ở việc xác nhận một khách hàng có mở tài khoản hay không, mà còn phải gửi số dư, biến động dòng tiền và các thông tin giao dịch liên quan. Đây là điểm khác biệt căn bản so với cơ chế cũ, vốn chỉ yêu cầu cung cấp thông tin định danh tài khoản theo định kỳ.
Phạm vi thông tin ngân hàng phải cung cấp cho cơ quan thuế:
Căn cứ điểm a khoản 7 Điều 61 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, nội dung thông tin được chia thành các nhóm sau:
- Thông tin định danh: tên chủ tài khoản, số hiệu tài khoản gắn với mã số thuế, nơi mở tài khoản, ngày mở và ngày đóng tài khoản.
- Thông tin giao dịch: số lượng, giá trị giao dịch, nội dung giao dịch, bên chuyển và bên nhận, bao gồm cả giao dịch trong nước và giao dịch xuyên biên giới.
- Số dư tài khoản, số dư cuối kỳ và thu nhập phát sinh từ tài khoản.
- Thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi, người được ủy quyền, đồng chủ tài khoản và người thụ hưởng.
- Thông tin về giao dịch bất thường, đáng ngờ theo pháp luật phòng chống rửa tiền.
Vì sao quy định ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản của khách hàng lại quan trọng với ngành thuế?

Bộ Tài chính xác định thông tin giao dịch và dòng tiền là căn cứ then chốt để đánh giá mức độ rủi ro thuế của cá nhân và hộ kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số phát triển nhanh nhưng khó kiểm soát qua hóa đơn truyền thống. Việc có dữ liệu số dư, dòng tiền theo thời gian thực giúp cơ quan thuế đối chiếu với doanh thu kê khai, phát hiện chênh lệch bất hợp lý.
Bộ Tài chính cũng yêu cầu ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán chủ động cung cấp dữ liệu về các giao dịch đáng ngờ để phục vụ phân tích rủi ro, thay vì chỉ rà soát thụ động theo danh sách mà cơ quan thuế gửi sang như trước đây. Đây là thay đổi quan trọng, chuyển vai trò của ngân hàng từ bên cung cấp thông tin khi được yêu cầu sang bên chủ động tham gia sàng lọc rủi ro thuế.
Theo góc nhìn từ MAN – Master Accountant Network, sau nhiều năm tư vấn quyết toán thuế cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp vừa và nhỏ, chúng tôi nhận thấy phần lớn các trường hợp bị truy thu trước đây xuất phát từ chênh lệch giữa dòng tiền vào tài khoản và doanh thu kê khai trên hóa đơn. Khi ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản định kỳ, khả năng phát hiện chênh lệch này sẽ nhanh và chính xác hơn nhiều so với thanh tra thủ công.
Ngành thuế cũng đang xây dựng hệ sinh thái dữ liệu kết hợp hóa đơn điện tử với thông tin ngân hàng, ứng dụng công nghệ phân tích, trong đó có trí tuệ nhân tạo, để nhận diện giao dịch bất thường, dấu hiệu trốn thuế hoặc rửa tiền. Đây là xu hướng quản lý thuế dựa trên dữ liệu lớn, phù hợp với thông lệ quốc tế mà nhiều quốc gia đã áp dụng.
Đối tượng nào phải thực hiện và đối tượng nào chịu ảnh hưởng?
Quy định ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản áp dụng cho hai nhóm chủ thể với vai trò khác nhau.
Nhóm có nghĩa vụ cung cấp thông tin
- Ngân hàng thương mại trong nước và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
- Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.
- Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trực tuyến, nếu có hoạt động tại Việt Nam.
- Tổ chức thẻ quốc tế hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam.
Nhóm bị ảnh hưởng bởi việc chia sẻ dữ liệu
Tất cả người nộp thuế có tài khoản thanh toán mở tại các tổ chức nêu trên đều thuộc phạm vi áp dụng, không phân biệt cá nhân, hộ kinh doanh hay doanh nghiệp. Điều này bao gồm cả người không cư trú tại Việt Nam nhưng có tài khoản thanh toán trong nước, và các báo cáo còn phải đáp ứng tiêu chuẩn trao đổi thông tin tài khoản tài chính của đối tượng không cư trú, phù hợp với chuẩn mực của Diễn đàn toàn cầu về minh bạch và trao đổi thông tin cho mục đích thuế.
Ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản của khách hàng từ khi nào và theo tần suất ra sao?

Nghị định 252/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Theo quy định, dữ liệu định danh tài khoản được gửi bằng phương thức điện tử, định kỳ trước ngày 10 hằng tháng cho cơ quan thuế. Bên cạnh việc cung cấp định kỳ, các tổ chức tín dụng còn phải chia sẻ thông tin theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo yêu cầu đột xuất của cơ quan thuế khi phát hiện dấu hiệu giao dịch bất thường.
Như vậy, có hai cơ chế cung cấp song song: cung cấp định kỳ hằng tháng đối với thông tin định danh và dữ liệu giao dịch cơ bản, cùng với cơ chế phối hợp theo yêu cầu khi cơ quan thuế cần xác minh một trường hợp cụ thể. Doanh nghiệp và cá nhân cần lưu ý rằng cơ chế đột xuất có thể được kích hoạt bất kỳ lúc nào nếu hệ thống phân tích rủi ro của ngành thuế phát hiện dấu hiệu nghi vấn.
Tổng hợp văn bản pháp luật liên quan đến việc ngân hàng cung cấp số dư tài khoản
Dưới đây là các văn bản pháp luật quan trọng điều chỉnh việc ngân hàng cung cấp thông tin tài khoản, số dư và giao dịch cho cơ quan thuế. So với trước đây khi ngân hàng chủ yếu cung cấp thông tin định danh và chỉ chia sẻ số dư, giao dịch theo yêu cầu thanh tra, kiểm tra, Nghị định 252/2026/NĐ-CP đã mở rộng phạm vi và chuyển sang cơ chế cung cấp thông tin định kỳ, chủ động hơn.
| Legal documents | Số hiệu / Hiệu lực | Related content |
| Nghị định 252/2026/NĐ-CP | Hiệu lực từ 1/7/2026 | Quy định chi tiết nghĩa vụ cung cấp thông tin tài khoản, số dư, giao dịch của ngân hàng cho cơ quan thuế tại Điều 61 |
| Luật Quản lý thuế 2025 | Quốc hội ban hành | Căn cứ khoản 2 Điều 40 quy định nội dung thông tin tài khoản người nộp thuế; khoản 2 Điều 14 quy định phương thức nộp thuế |
| Nghị định 26/2025/NĐ-CP | Quy định chức năng Ngân hàng Nhà nước | Quy định nhiệm vụ quản lý ngoại hối, phối hợp cung cấp dữ liệu phục vụ quản lý thuế đối với giao dịch xuyên biên giới |
| Pháp luật phòng, chống rửa tiền | Hiện hành | Căn cứ xác định giao dịch bất thường, đáng ngờ phải báo cáo cho cơ quan quản lý thuế |
| Chuẩn mực trao đổi thông tin tài chính toàn cầu | Diễn đàn minh bạch thuế quốc tế | Căn cứ báo cáo thông tin tài khoản của đối tượng không cư trú thuế tại Việt Nam |
Important Note: so với quy định cũ, khi ngân hàng chỉ định kỳ cung cấp thông tin định danh và chỉ chia sẻ số dư, giao dịch khi có yêu cầu thanh tra, kiểm tra, phạm vi thông tin theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP đã mở rộng đáng kể, chuyển từ cơ chế bị động sang chủ động cung cấp định kỳ.
Ngoài ngân hàng, Nghị định 252/2026/NĐ-CP còn buộc chủ thể nào khác phải cung cấp thông tin cho cơ quan thuế?
Một điểm mới đáng chú ý là Nghị định 252/2026/NĐ-CP lần đầu tiên quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan báo chí cho cơ quan thuế. Trước đây, nghĩa vụ cung cấp thông tin chủ yếu đặt lên ngân hàng và các tổ chức trung gian thanh toán.
Theo quy định mới, khi được yêu cầu, cơ quan báo chí phải cung cấp cho ngành thuế những thông tin thu thập được trong quá trình tác nghiệp liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, giá bán, thị trường của tổ chức, cá nhân có liên quan. Đồng thời, cơ quan báo chí cũng có trách nhiệm phản ánh cho cơ quan thuế những thông tin có dấu hiệu vi phạm hoặc tiềm ẩn rủi ro về thuế mà họ phát hiện trong quá trình đưa tin.
Quy định này cho thấy cách tiếp cận quản lý thuế dựa trên dữ liệu đang được mở rộng ra ngoài phạm vi hệ thống tài chính, ngân hàng, hướng đến việc huy động nhiều nguồn thông tin xã hội khác nhau để nhận diện sớm rủi ro thuế, đặc biệt với các cá nhân, tổ chức có hoạt động kinh doanh, quảng cáo, truyền thông thường xuyên xuất hiện trên báo chí.
Case Study: Hộ kinh doanh online tại TP.HCM bị đối chiếu số dư tài khoản
Background
Chị B kinh doanh mỹ phẩm qua mạng xã hội tại TP.HCM, kê khai thuế khoán với doanh thu khai báo khoảng 80 triệu đồng/tháng. Từ tháng 7/2026, dữ liệu số dư và giao dịch từ ngân hàng nơi chị B mở tài khoản kinh doanh được gửi định kỳ cho cơ quan thuế theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP.
Phát sinh rủi ro
Qua đối chiếu, cơ quan thuế phát hiện tổng dòng tiền vào tài khoản của chị B trong một tháng lên đến 350 triệu đồng, cao gấp nhiều lần doanh thu kê khai. Đây thuộc nhóm giao dịch có dấu hiệu chênh lệch bất thường, dẫn đến việc chị B nhận được thông báo rà soát, yêu cầu giải trình nguồn tiền và cơ sở doanh thu thực tế.
Cách xử lý theo tư vấn từ MAN
Các chuyên gia tại MAN – Master Accountant Network khi hỗ trợ các trường hợp tương tự thường khuyến nghị ba bước: (1) tách bạch rõ tài khoản kinh doanh và tài khoản cá nhân ngay từ đầu; (2) lưu giữ đầy đủ chứng từ, hóa đơn đầu vào, đơn hàng tương ứng với từng khoản tiền vào tài khoản kinh doanh; (3) chủ động rà soát định kỳ doanh thu thực tế so với dòng tiền, điều chỉnh mức thuế khoán kịp thời trước khi cơ quan thuế yêu cầu giải trình.
Kết quả đo lường được
Sau khi cung cấp đầy đủ hồ sơ chứng minh một phần dòng tiền là các khoản vay mượn cá nhân, không phải doanh thu kinh doanh, chị B chỉ phải điều chỉnh tăng doanh thu tính thuế ở mức phù hợp thay vì bị ấn định toàn bộ 350 triệu đồng là doanh thu chịu thuế. Việc có hồ sơ minh bạch giúp quá trình giải trình chỉ mất khoảng một tuần, thay vì kéo dài nhiều tháng như các trường hợp thiếu chứng từ.
Nhận định chuyên gia: Rủi ro doanh nghiệp, hộ kinh doanh thường gặp
Các chuyên gia tại MAN – Master Accountant Network với hơn 30 năm kinh nghiệm kiểm toán và tư vấn thuế tại Việt Nam lưu ý bốn rủi ro phổ biến sau khi quy định ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản có hiệu lực.
- Rủi ro 1: Nhầm lẫn giữa tài khoản cá nhân và tài khoản kinh doanh: Nhiều hộ kinh doanh, cá nhân bán hàng online sử dụng chung một tài khoản cho cả chi tiêu cá nhân và giao dịch kinh doanh. Khi dữ liệu số dư được đối chiếu, toàn bộ dòng tiền vào tài khoản có thể bị mặc định là doanh thu, dẫn đến rủi ro bị ấn định thuế cao hơn thực tế.
- Rủi ro 2: Thiếu chứng từ chứng minh nguồn gốc dòng tiền: Các khoản vay mượn, hoàn trả tiền hàng, chuyển tiền nội bộ gia đình nếu không có hợp đồng, biên nhận rõ ràng rất dễ bị tính nhầm vào doanh thu chịu thuế khi cơ quan thuế đối chiếu số dư tài khoản với tờ khai.
- Rủi ro 3: Chậm cập nhật với các giao dịch xuyên biên giới: Doanh nghiệp có giao dịch quốc tế, nhận thanh toán từ đối tác nước ngoài cần lưu ý dữ liệu giao dịch xuyên biên giới cũng nằm trong phạm vi ngân hàng phải cung cấp cho cơ quan thuế, đòi hỏi hồ sơ hợp đồng ngoại thương, chứng từ thanh toán quốc tế phải được lưu trữ đầy đủ.
- Rủi ro 4: Bị động khi nhận được yêu cầu giải trình đột xuất: Khi hệ thống phân tích dữ liệu phát hiện giao dịch bất thường, cơ quan thuế có thể yêu cầu giải trình trong thời gian ngắn. Doanh nghiệp không có quy trình lưu trữ chứng từ khoa học sẽ mất nhiều thời gian tổng hợp, tăng nguy cơ bị đánh giá không hợp tác hoặc bị ấn định thuế bất lợi.
Từ 1/7/2026, người nộp thuế có thể nộp thuế bằng những phương thức nào?
Song song với nghĩa vụ cung cấp số dư tài khoản của ngân hàng, Luật Quản lý thuế 2025 cũng quy định lại các phương thức nộp thuế mà người nộp thuế được sử dụng từ 1/7/2026. Căn cứ khoản 2 Điều 14 Luật Quản lý thuế 2025, có hai nhóm phương thức nộp thuế chính.
Nộp thuế theo phương thức điện tử
Người nộp thuế có thể nộp qua Hệ thống thông tin quản lý thuế, qua Hệ thống dịch vụ công trực tuyến của Kho bạc Nhà nước, hoặc qua dịch vụ thanh toán điện tử của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và các tổ chức dịch vụ khác có kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp với hệ thống thông tin quản lý thuế.
Nộp thuế trực tiếp
Người nộp thuế cũng có thể nộp trực tiếp tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức trung gian thanh toán, tổ chức dịch vụ có kết nối hệ thống, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan quản lý thuế, hoặc tổ chức được cơ quan thuế ủy nhiệm thu thuế.
Điểm đáng lưu ý là hầu hết các kênh nộp thuế nêu trên đều gắn liền với tài khoản thanh toán mở tại ngân hàng hoặc tổ chức trung gian thanh toán. Điều này có nghĩa là cùng một lúc, ngân hàng vừa là kênh thu nộp ngân sách chính thức, vừa là đầu mối cung cấp dữ liệu số dư, giao dịch cho cơ quan thuế, giúp việc đối chiếu nghĩa vụ nộp thuế với dòng tiền thực tế trở nên thuận tiện hơn.
Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò gì trong việc giám sát dữ liệu ngoại hối phục vụ ngành thuế?
Bên cạnh nghĩa vụ của ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước cũng có vai trò quản lý ngoại hối, ảnh hưởng trực tiếp đến việc kiểm soát các giao dịch xuyên biên giới, vốn là một phần dữ liệu mà ngân hàng phải cung cấp cho cơ quan thuế. Theo khoản 14 Điều 2 Nghị định 26/2025/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước có các nhiệm vụ, quyền hạn sau trong quản lý nhà nước về ngoại hối và kinh doanh vàng:
- Quản lý hoạt động ngoại hối trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, việc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt động kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngoại hối, kể cả khu vực biên giới.
- Quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước, thực hiện mua bán ngoại hối trong nước và quốc tế phục vụ chính sách tiền tệ quốc gia, cũng như giao dịch với ngân sách nhà nước và các tổ chức quốc tế.
- Công bố tỷ giá hối đoái, quyết định chế độ và cơ chế điều hành tỷ giá.
- Cấp và thu hồi văn bản chấp thuận cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối.
- Quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài của tổ chức, cá nhân Việt Nam.
- Quản lý hoạt động kinh doanh vàng trên cả nước.
- Quản lý việc vay, trả nợ nước ngoài theo cơ chế tự vay tự trả, hướng dẫn thủ tục xác nhận đăng ký hoặc đăng ký thay đổi đối với khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
- Quản lý hoạt động cho vay, thu hồi nợ nước ngoài và bảo lãnh cho người không cư trú của tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế.
Với doanh nghiệp có giao dịch quốc tế, việc Ngân hàng Nhà nước siết chặt quản lý ngoại hối cùng với nghĩa vụ ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản đồng nghĩa dòng tiền xuyên biên giới có thể bị đối chiếu hai lớp, qua cả kênh ngoại hối và kênh dữ liệu thuế. Theo tư vấn từ MAN – Master Accountant Network, doanh nghiệp xuất nhập khẩu, doanh nghiệp FDI nên chủ động rà soát hồ sơ chứng minh mục đích chuyển tiền, hợp đồng ngoại thương và văn bản đăng ký khoản vay nước ngoài, để tránh chậm trễ khi có yêu cầu xác minh.
Conclude
Quy định ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản của khách hàng cho cơ quan thuế đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quản lý thuế tại Việt Nam, từ cơ chế thanh tra thủ công sang giám sát dựa trên dữ liệu. Điều này đòi hỏi cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp phải chủ động minh bạch hóa dòng tiền, lưu trữ chứng từ khoa học ngay từ bây giờ, thay vì chờ đến khi nhận được yêu cầu giải trình mới xử lý.
MAN – Master Accountant Network là đơn vị tư vấn thuế, kế toán, kiểm toán hàng đầu với đội ngũ chuyên gia hơn 30 năm kinh nghiệm thực tế, am hiểu sâu sắc quản trị rủi ro thuế tại Việt Nam. Chúng tôi cung cấp đầy đủ tax consulting services, tax accounting services, tax reporting services, dịch vụ kê khai thuế và tax settlement services cho doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước, hộ kinh doanh và cá nhân. Hơn 500 khách hàng đã quay lại dùng dịch vụ lần thứ hai trong năm qua. Liên hệ MAN – Master Accountant Network để được tư vấn miễn phí.
Service contact information at MAN – Master Accountant Network
- Address: Số 19A, Đường 43, Phường Tân Thuận, TP. Hồ Chí Minh
- Mobile/Zalo: 0903 963 163 – 0903 428 622
- E-mail: man@man.net.vn
- Google Business Profile: Xem Google Business Profile của MAN – Master Accountant Network
- LinkedIn Founder: Xem hồ sơ LinkedIn của chuyên gia Lê Hoàng Tuyên
Phụ trách sản xuất và kiểm duyệt nội dung chuyên môn bởi: Ông Le Hoang Tuyen – Sáng lập viên (Founder) & CEO MAN – Master Accountant Network, Kiểm toán viên CPA Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán, Thuế và Tư vấn Tài chính doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp về việc ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản của khách hàng cho cơ quan thuế
Từ ngày 1/7/2026, theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản lý thuế 2025.
Thông tin định danh và dữ liệu giao dịch cơ bản được cung cấp định kỳ cho toàn bộ tài khoản thanh toán của người nộp thuế. Việc phối hợp kiểm tra chuyên sâu chỉ áp dụng khi phát hiện giao dịch bất thường, đáng ngờ.
Có. Quy định áp dụng cho mọi người nộp thuế có tài khoản thanh toán, bao gồm cả cá nhân không kinh doanh, đặc biệt nếu có dòng tiền lớn bất thường so với thu nhập kê khai.
Doanh nghiệp nên tách bạch tài khoản theo mục đích sử dụng, lưu trữ đầy đủ hợp đồng, hóa đơn, chứng từ thanh toán tương ứng với từng khoản tiền vào, ra tài khoản để sẵn sàng giải trình khi cần.
Có. Việc cung cấp thông tin phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, pháp luật về các tổ chức tín dụng, và chỉ phục vụ trực tiếp công tác quản lý thuế theo đúng phạm vi quy định. Ngân hàng phải cung cấp số dư tài khoản của khách hàng cho cơ quan thuế từ ngày nào?
Tất cả tài khoản ngân hàng đều bị cung cấp số dư hay chỉ tài khoản nghi vấn?
Người dùng cá nhân có bị ảnh hưởng bởi quy định này không?
Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì để tránh rủi ro khi bị đối chiếu số dư tài khoản?
Thông tin số dư tài khoản có được bảo mật không?




